TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIỂN GỖ Ở VIỆT NAM

Ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực.

 

Hiện nay, nước ta dự tính có khoảng 3.500 doanh nghiệp chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ và số lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ chưa được thống kê. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô đa phần là nhỏ. Theo nguồn gốc vốn thì 5% số doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, 95% còn lại là thuộc khu vực tư nhân, trong đó có 16% có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

 

Để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên, hàng năm Viêt Nam phải nhập khẩu khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng, ván nhân tạo để sản xuất hàng xuất khẩu. Nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia thường không ổn định do chính sách lâm sản của các quốc gia này luôn thay đổi, trong khi nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khác như New Zealand, Australia, Thụy Điển, Đan Mạch, Phàn Lan, Canada, Mỹ, Châu Phi lại cách xa về địa lý nên giá thành nguyên liệu bị đội lên rất cao, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam.

Nhằm chủ động chuẩn bị nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, Việt Nam cũng đang tích cực phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóng một vai trò quan trọng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, MDF Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, MDF Bình Thuận với công suất 10.000 m3 sản phẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái Nguyên với 16.500m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa (Nghệ An) 15.000m3 và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000m3/năm.

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao ở hầu hết các thị trường lớn. Để phát huy hết tiềm năng của ngành chế biến gỗ Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến xu hướng “môi trường hóa” thương mại đồ gỗ. Với 3 xu hướng nguyên liệu chính: gỗ nhân tạo, gỗ có chứng nhận FSC và gỗ tái chế, các tiêu chuẩn về môi trường sẽ được thị trường đặt ra ngày càng nhiều cho thương mại đồ gỗ, kể cả việc xác định tính hợp pháp và khả năng tái sinh của khu vực khai thác. Do đó, đối với các sản phẩm gỗ khai thác tại Việt Nam cần mời các tổ chức quốc tế có thẩm quyền kiểm tra việc quản lý, khai thác gỗ và cấp giấy chứng chỉ xác nhận gỗ được khai thác. Đặc biệt, việc xây dựng và các tiêu chí quản lý rừng bền vững cần được tiến hành nhanh chóng, triệt để nhằm đạt được một số lợi thế cho ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Doanh nghiệp gỗ lo không cạnh tranh nổi ở thị trường nội địa

Doanh nghiệp gỗ trong nước hiện đang lo không cạnh tranh nổi vào năm tới khi Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết. Hiện nay nhiều doanh nghiệp đã khó có chỗ đứng tại thị trường này.

Theo ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch Công ty Mifaco, việc quay lại thị trường đã được tính toán rất kỹ từ những năm gần đây. Tuy vậy, thị trường trong nước luôn có “biến” nên các doanh nghiệp vẫn còn rất dè dặt. Trở lại thị trường trong nước mặc dù là sân nhà nhưng cần phải có sự liên kết giữa nhiều bên để có thể tham gia vào chuỗi kinh doanh sản phẩm phù hợp với mình.

Ông Hiệp khẳng định: “Sự liên kết các bên này cũng đem đến nhiều cơ hội cho đầu ra sản phẩm và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dây chuyền, nhà xưởng ưu tiên sản xuất cho thị trường nội địa với những đơn hàng nhỏ lẻ. Hiện nay, doanh thu của về xuất khẩu của công ty khoảng 250 tỷ mỗi năm tuy nhiên khai thác tốt thị trường nội địa thì vài năm tới cũng có thể đạt được con số tương đương”.

Thực tế, nhiều năm qua các doanh nghiệp đã tập trung đầu tư cho thị trường nội địa nhưng thành quả vẫn không như mong đợi mà theo ông Quyền một trong những lý do chính là Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và kinh doanh bền vững ở thị trường nội địa.

 

Cụ thể như vấn đề thuế giá trị gia tăng (VAT), dù doanh nghiệp đã “kêu” rất nhiều, nhưng vẫn không được giải quyết. Các doanh nghiệp ngành gỗ đề xuất rằng khi bán sản phẩm ra thị trường nội địa, không cần miễn thuế VAT, nhưng thời gian ban đầu, Nhà nước có thể giảm thuế, hoặc miễn thuế trong một thời gian nhất định để doanh nghiệp đưa hàng giá rẻ hơn đến người tiêu dùng.

 

DN gỗ lo không cạnh tranh nổi ở thị trường nội địa

 

Ngoài thuế VAT, doanh nghiệp mua nguyên liệu gỗ trong nước từ rừng tự nhiên cũng bị đánh thuế tài nguyên từ 10% đến 30%. Doanh nghiệp còn bị đánh thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp… Phải gánh nhiều sắc thuế nên sản phẩm đến tay người tiêu dùng thường bị đẩy giá lên rất cao. Đây là trở lực lớn cho doanh nghiệp gỗ thành công ở thị trường nội địa.

 

Trong khi đó nhiều năm qua, Nhà nước đưa ra nhiều chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ; cụ thể là doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này không bị đánh thuế (thuế suất 0%), doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu về chế biến cũng được miễn thuế.

 

Để mở rộng thị trường nội địa, Viforest đề nghị trước hết Nhà nước phải có chính sách phù hợp, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư phục vụ nhu cầu của thị trường nội địa thay vì chỉ hướng tới xuất khẩu như hiện nay.

Ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần Mỹ thuật Gia Long cho rằng: “Chưa nói đến mức độ cạnh tranh nhưng sự phát triển về số lượng của hàng nội thất cũng như sự đa dạng của sản phẩm đã cho thấy các doanh nghiệp đã nhìn nhận nghiêm túc hơn về thị trường nội địa”.

 

Gỗ và độ ẩm của gỗ

Gỗ là vật liệu không thể thiếu đối với con người, được ứng dụng rất rộng rãi. Gỗ được dùng làm rất nhiều thứ từ tủ bếp, bàn ghế, tủ quần áo, tủ kệ ti vi, giường ngủ, cửa…trong nội thất đến thanh chịu lực, thanh đòn trong xây dựng. Nhưng một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng gỗ đó là độ ẩm của gỗ. Để hiểu và sử dụng gỗ một cách hiệu quả thì chúng ta cần hiểu biết sâu sắc hơn về độ ẩm gỗ.

 

Độ ẩm gỗ là gì? 

Các trạng thái bình thường của gỗ và sản phẩm gỗ đều có độ ẩm nhất định. Độ ẩm gỗ được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm của nước trong gỗ và khối lượng gỗ khô.

Độ ẩm (W) của gỗ được tính theo công thức sau:

W = (Gs-Ggo) / Ggo × 100%, W1 = (Gs-Ggo) / Gs × 100%

Trong đó:

+ W – độ ẩm tuyệt đối của gỗ;

+ W1 – độ ẩm tương đối của gỗ

+ Gs – trọng lượng của gỗ ướt;

+ Ggo — trọng lượng gỗ đã sấy khô.

 

Tầm quan trọng của độ ẩm gỗ. 

Tại sao một số cửa gỗ, sàn gỗ, nội thất gỗ và những sản phẩm gỗ khác sau một thời gian sử dụng lại xuất hiện rạn nứt, bị biến dạng. Đó là vấn đề về chất lượng, hầu hết các sản phẩm về gỗ đã hoàn thành, vật liệu sẽ không thay đổi nữa. Lần này yếu tố chính quyết định đến chất lượng sản phẩm đó là độ ẩm của gỗ. Cơ sở sản xuất cần hiểu rõ độ ẩm thích hợp của những sản phẩm gỗ. Khi các sản phẩm gỗ đạt được độ ẩm cân bằng thì rất khó bị rạn nứt và biến dạng về sau.

Các đại lý bán gỗ, các nhà sản xuất xuất khẩu cũng nên bán những sản phẩm đã qua kiểm tra về độ ẩm, lấy gỗ từ những cơ sở sản xuất chất lượng tốt.

Đối với người mua nội thất gỗ cao cấp cần tìm hiểu nhiều hơn về chỉ số độ ẩm của sản phẩm nội thất

 

Gỗ sấy, nên được sấy khô đến mức thích hợp. 

Gỗ được đặt trong môi trường nhất định trong thời gian đủ dài, thì độ ẩm của nó có xu hướng tiến tới một giá trị cân bằng cũng là độ ẩm của môi trường. Khi độ ẩm của gỗ cao hơn môi trường thì gỗ sẽ giảm ẩm và ngược lại sẽ hút ẩm.

Ví dụ: độ ẩm trung bình ở Hà Nội là 19%, ở Tp. HCM là 16%, gỗ khô đến 15% là được dùng thích hợp tại Tp.HCM. Nếu sử dụng gỗ này ở Hà Nội thì nó sẽ hút ẩm, dẫn đến sự biến dạng. Vì vậy, sấy gỗ cần phải thích hợp, không phải sấy càng khô càng tốt. Các khu vực khác nhau, sử dụng gỗ có yêu cầu độ ẩm khác nhau.

 

Độ ẩm cân bằng. 

Độ ẩm mà gỗ nhận được khi người ta giữ nó lâu dài trong không khí có độ ẩm tương đối và nhiệt độ không đổi gọi là độ ẩm cân bằng.

 

0006786_my_o_m_g_wagner_mmc_220_5_30_01

 

 

Độ ẩm cân bằng của gỗ khô trong phòng sấy là 8 — 12%, của gỗ khô sau khi sấy để lâu dài ngoài không khí là 15 — 18%.

 

 

 

0006783_my_o_m_b_tng_tramex_cme4_0_6

Sử dụng gỗ dái ngựa có tốt không?

Gỗ dái ngụa là loại thân gỗ tự nhiên, có sơ gỗ rất dai, gỗ dái ngựa được sử dụng trong đóng đồ nội thất như đóng giường, tủ, bàn ghế, sàn gỗ tự nhiên ( Hàng đề xê của gỗ có thể chế biến thành bột gỗ để tạo nên sàn gỗ công nghiệp hoặc gỗ ép công nghiệp).

 

Gỗ dái ngựa được sử dụng vào nhiều mục đích công việc khác nhau như sàn gỗ, đồ nội thất. Hiện nay người ta đã sử dụng gỗ dái ngựa ngày một nhiều lên vì đặc tính hóa lý của gỗ dái ngựa rất ổn trong quá trình sử dụng

Dát gỗ dái  ngựa   màu từ nhạt đến gần như trắng, tâm gỗ có màu sắc đa dạng, từ nâu xám đến nâu nhạt hoặc vàng nhạt sọc nâu. Vân gỗ dái ngựa thường thẳng theo thớ và rất tự nhiên.
Nhìn chung vân gỗ thẳng, to, mặt gỗ thô đều. Thứ hạng và trữ lượng dái ngựa có dát gỗ màu vàng nhạt và một số đặc tính khác tùy vào từng vùng trồng gỗ.

1-Đặc điểm vật lý:
Gỗ dái ngựa có khả năng chịu lực tổng thể rất tốt và khả năng này tương ứng với trọng lượng của gỗ. Độ kháng va chạm gỗ dái ngựa thuộc loại tuyệt vời, gỗ dễ uốn cong bằng hơi nước do vậy gỗ dái ngựa được lựa chọn trong các vật dụng khó.

 

file.423588

 
2- Độ bền gỗ dái ngựa:
Tâm gỗ không có khả năng kháng sâu, mọt rất tốt. Dát gỗ dễ bị các loại mọt ăn. Tâm gỗ dái ngựa rất cứng và tính ổn định cao nên không thấm chất bảo quản .nhưng dát gỗ sẽ thấm chất bảo quản cao.
3- Công dụng chủ yếu:
Đồ gỗ, Sàn gỗ tự nhiên, vật liệu kiến trúc nội thất, đồ gỗ chạm khắc và gờ trang trí nội thất cao cấp, cửa, tủ bếp, ván lát ốp, tay cầm của các loại dụng cụ, các dụng cụ thể thao và gỗ tiện.

 

IMG_6401

 

4 – Ứng dụng của gỗ dái ngựa:
Gỗ dái ngựa có khả năng chịu mối tốt, độ bám ốc, bám đinh và dính keo tốt, có thể được nhuộm màu và đánh bóng để thành thành phẩm tốt. gỗ dái ngựa tương đối dễ khô, nguy cơ xuống cấp khi sấy khô là rất ít. Gỗ ít bị biến dạng khi sấy, độ co ngót của gỗ ít nên có thể sử dụng đóng đồ nội thất tốt.

Việt Nam xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 thế giới

Theo nhận định của Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ nước ta vượt trội hơn so với nhiều ngành hàng chủ lực khác. Tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 6,9 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2015.

Thị trường chủ đạo.

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU hiện vẫn là những thị trường nhập khẩu nhiều nhất gỗ và các sản phẩm gỗ từ Việt Nam. Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,2 – 7,3 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng khoảng 8 – 10%.

Việt Nam xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 thế giới

Trong khi đó, với thị trường trong nước, đồ gỗ đã làm chủ được sân nhà. Năm 2015 đã có hơi ấm từ thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường căn hộ, kỳ vọng năm 2016 là một năm tăng trưởng tốt về nhu cầu tiêu thụ nội địa.

Nguồn nguyên liệu nổi lo.

Các dòng gỗ hiện nay làm ra sản phẩm xuất khẩu như gỗ thông gỗ dầu và dòng gỗ trồng trong nước gỗ tràm hay gỗ muồng đen chiếm thị phần khá lớn.Kèm theo đó là nổi lo tăng giá nguyên liệu đầu vào vì vậy cần tăng cường các loại gỗ rừng trồng trong nước chủ động nguồn nguyên liệu thì thị phần xuât khẩu chúng ta sẽ tăng lên.

Dự báo Việt Nam xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 thế giới

Nếu như nhiều năm qua, ngành gỗ và thủ công mỹ nghệ tập trung xuất khẩu các sản phẩm chế biến sử dụng nhiều lao động thì nay nhiều doanh nghiệp đã có nhận thức tạo những giá trị gia tăng khác như đầu vào thiết kế phát triển sản phẩm, gia tăng hàm lượng công nghệ thiết bị – vật liệu trong chế biến, nâng cao kỹ năng quản lý, dịch vụ, bán hàng… – See more at: http://sggp.org.vn/kinhte/2016/2/410906/#sthash.uOzYXE7p.dpuf

NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NGUYÊN LIỆU NGÀNH GỖ

cÙNG TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NGUYÊN LIỆU NGÀNH GỖ HIỆN NAY. Nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện đang rất khó khăn, chủ yếu từ 2 nguồn cơ bản: Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước (gỗ tự nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu. Về nguồn nguyên liệu gỗ trong nước thì kể từ năm 2014 Chính phủ quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, do vậy nguồn nguyên liệu gỗ nội địa chỉ còn trông chờ vào gỗ rừng trồng.

Nổi lo nguyên liệ đầu vào.

Việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu và nguy cơ có thể đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Hoa Kỳ khiến các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.

Vẫn phải nhập gỗ

Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam ái ngại về lâu dài, ngành gỗ Việt Nam sẽ vẫn không tránh khỏi việc phải nhập khẩu nguyên liệu.

Năm 2009, sản lượng gỗ khai thác của Việt Nam đạt 3,88 triệu m3. Trong đó, lượng gỗ khai thác từ rừng trồng chủ yếu gỗ tràm , gỗ muồng đen hay gỗ dầu  đạt 3,7 triệu m3, còn lại là từ gỗ rừng tự nhiên.

Để phục vụ ngành chế biến xuất khẩu gỗ, năm vừa qua, Việt Nam vẫn phải nhập đến 4 triệu m3 gỗ chủ yếu các dòng gỗ như gỗ thông , gỗ tần bì hay gỗ sồi..

Theo tính toán của hiệp hội, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ dự kiến trong các năm 2010, 2015 và 2020 sẽ lần lượt đạt ở con số 3 tỷ USD; 4,5 tỷ USD và 7 tỷ USD.

gY

Những kịch bản NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NGUYÊN LIỆU NGÀNH GỖ

Theo kịch bản này thì từ nay đến năm 2020, mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu từ 4-5 triệu m3 gỗ. Hơn nữa, có thể thời gian tới, thị trường nguyên liệu gỗ cho Việt Nam sẽ bị thu hẹp bởi hiện nay, các nước xuất khẩu gỗ nguyên liệu đang xem xét lại chuỗi giá trị ngành gỗ. Do vậy, có nhiều khả năng thời gian tới, các nước này sẽ ban hành các chính sách giảm hoặc không xuất khẩu gỗ tròngỗ xẻ. Đây sẽ là một bất lợi lớn cho ngành chế biến đồ gỗ Việt Nam và đòi hỏi ngành phải sớm có những phương án để giảm dần sự phụ thuộc này.

Chính vì vậy nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam bị ảnh hưởng đáng kể từ gỗ nhập khẩu. Lượng gỗ nhập khẩu tương đối lớn chiếm 30-50%. Kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu bằng 30% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Về thị trường nhập khẩu, Việt Nam đang nhập khẩu từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

capture_JNUH

Các thị trường gỗ nguyên liệu được nhập vào việt nam.

Hiện nay, chủ yếu nguyên liệu gỗ được nhập khẩu từ Lào và Campuchia nhưng nguồn cung này đang cạn kiệt. Kể từ năm 2005 đến nay, 2 nước Malaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ xẻ, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giá nhiều loại gỗ đã tăng bình quân từ 5% – 7%, đặc biệt gỗ cứng đã tăng từ 30% – 40%, làm cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng khó khăn.

Đánh giá các chuyên gia và nhận định NGUYÊN LIỆU NGÀNH GỖ.

Theo đánh giá của hãng nghiên cứu thị trường James Hewitt, Mỹ là thị trường chiếm nhiều thị phần nhất trong số ba thị trường xuất khẩu chính của đồ gỗ Việt Nam trong năm 2010, với 44% thị phần.

Trong buổi tọa đàm mới đây về các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp liên quan đến xuất khẩu của Việt Nam, tiến sĩ Peter John Koenig – luật sư cao cấp của Hãng luật Squire Sanders (Hoa Kỳ) lưu ý “Khi có các vụ kiện đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc thì các mặt hàng tương tự của các quốc gia khác cũng sẽ bị để ý tới. Đồ gỗ là mặt hàng nhạy cảm, các nhà sản xuất nội địa Mỹ rất hay khởi kiện Trung Quốc về vấn đề này. Vì thế, các nhà sản xuất mặt hàng đồ gỗ ở Việt Nam phải cẩn trọng.”

nganh-go-cua-viet-nam-va-mot-so-du-bao-trong-tuong-lai

Qua những tư liệu về các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với cá, tôm, túi nhựa, giầy dép, đèn compact… trong quá khứ, tiến sĩ Koenig cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét các vụ kiện trên, cẩn trọng hơn.

Đa dạng thị trường nhập nguyên liệu NGUYÊN LIỆU NGÀNH GỖ .

Một số biện pháp mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể làm là đa dạng hóa các thị trường để nhỡ bị kiện ở thị trường này thì không quá ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của mình.

Các doanh nghiệp nên tránh bán hàng với giá quá thấp, bởi vì điều này có thể khiến thị trường Mỹ cho rằng doanh nghiệp có những hoạt động kinh doanh không lành mạnh. Doanh nghiệp nên có một hệ thống sổ sách kế toán minh bạch để khi bị yêu cầu, có thể cung cấp kịp thời các số liệu rõ ràng cho phía điều tra.(Nguồn: TTX, ¼)

Ngành chế biến gỗ liệu có hưởng lợi từ TPP?

Ngành chế biến gỗ liệu có hưởng lợi từ TPP? Xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang thị trường TPP (12 nước tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương) chiếm hơn 50%.Ngành sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, nhất là sau khi nước ta tham gia ký kết hiệp định thương mại tự do với các nước và tổ chức quốc tế. Trước sức ép hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp gỗ đang nỗ lực, chủ động tìm hướng phát triển ổn định và bền vững hơn.

Ngành chế biến gỗ liệu có hưởng lợi từ TPP? Cơ hội không dài.

Là chủ một doanh nghiệp chế biến gỗ nhiều năm khai thác thị trường Mỹ, ông Trần Văn Thành, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Kiến Phúc (huyện Trảng Bom), cho rằng việc hưởng lợi từ TPP của doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam có thể không kéo dài.

Theo ông, chỉ một thời gian hiệp định được thực thi là những quốc gia trong khối này sẽ dựng lên hàng rào kỹ thuật, đặc biệt là Mỹ. Điểm tiếp nữa là nhiều quốc gia khác cũng chạy đua tham gia vào thị trường này khiến việc cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Điều ông Thành nhận xét hoàn toàn có lý. Hiện tại, ngay thị trường trong nước khi lĩnh vực này thấy cơ hội tốt, nhiều doanh nghiệp ngoại đã nhảy vào đầu tư để khai thác lợi thế.

Số liệu từ các doanh nghiệp chế biến gỗ.

Ông Phạm Duy Phương, Giám đốc Công ty TNHH Thể Phương (phường Tân Hòa, TP.Biên Hòa), cho hay hiện tại các doanh nghiệp chế biến gỗ Đài Loan đang khai thác tốt thị trường Mỹ.

Phương thức của các doanh nghiệp này là đặt hàng gia công từ các doanh nghiệp nhỏ của Việt Nam. Đây là bài toán khá hiệu quả mà các doanh nghiệp này đang khai thác.

Theo Hội Xuất nhập khẩu Đồng Nai, Mỹ và Nhật Bản là thị trường lớn nhập khẩu mặt hàng gỗ, sản phẩm từ gỗ của Việt Nam hiện nay. Vì vậy, khi tham gia TPP ngành gỗ có cơ hội tốt, nhưng về lâu dài những rào cản sẽ xuất hiện.

Leaders_of_TPP_member_states

Ông Nguyễn Tiến Chương, Chủ tịch Hội Xuất nhập khẩu Đồng Nai, nhận định: “Thị trường Mỹ rất tốt và ngành gỗ của Việt Nam đang có lợi thế ở đây, nhưng đây cũng là thị trường hay có các hàng rào kỹ thuật được dựng lên. Vì vậy, về lâu dài sẽ xuất hiện những thách thức”.

Chủ động để hội nhập

Tổng Giám đốc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam Phí Mạnh Cường cho rằng, sẽ thuận lợi nhiều hơn khó khăn cho các doanh nghiệp gỗ trong nước khi tham gia Hiệp định TPP. Trong đó, chủ yếu các quốc gia thuộc nhóm nước cam kết hiệp định áp dụng thuế suất 0%, duy nhất chỉ còn Mê-hi-cô vẫn áp dụng mức thuế từ 5% đến 10% áp dụng đối với từng sản phẩm gỗ.

Lượng khai thác gỗ rừng của các doanh nghiệp trong nước những năm trước đây đạt thấp, chỉ vào khoảng 400 nghìn m3 mỗi năm. Nhưng từ năm 2010 trở lại đây nhu cầu gỗ nguyên liệu đã tăng cao, dự báo đến năm 2020 sẽ tiêu thụ khoảng 22 triệu m3 nguyên liệu trong nước.

Theo ngành lâm nghiệp, hiện cả nước còn có hơn 800 nghìn ha cao-su, với chu kỳ khai thác 25 năm, đến năm 2020, chỉ riêng cao-su khai thác gỗ đã cho sản lượng từ 5 triệu đến 6 triệu m3 cao-su nguyên liệu. Bên cạnh đó, với hơn 2,5 triệu ha rừng trồng các loại gỗ như gỗ thông , gỗ tràm hay gỗ muồng đen, đến năm 2020 sẽ cung cấp khoảng 15 triệu đến 16 triệu m3, chưa kể lượng gỗ phân tán sẽ cung cấp hàng triệu m3. Như vậy, nhu cầu về nguyên liệu gỗ khai thác trong nước từ nay đến năm 2020 sẽ đủ phục vụ các doanh nghiệp chế biến và sản xuất.

Cơ hội mở rộng thị trường.

Ngành chế biến gỗ liệu có hưởng lợi từ TPP?

Cùng với 12 đối tác quan trọng trong TPP, hiện nay, Trung Quốc đang trở thành một thị trường truyền thống của các doanh nghiệp gỗ Việt Nam với doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm. Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền, năm 2014, Việt Nam xuất khẩu được 940 triệu USD sang thị trường này, trong đó hơn 700 triệu USD là sản phẩm thô như dăm mảnh, gỗ tròn, sản phẩm tinh chế ít.

Để chủ động, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ cần quan tâm hơn đến vấn đề minh bạch trong xuất xứ nguyên liệu gỗ. Bên cạnh việc tăng cường trồng rừng để bảo đảm vùng nguyên liệu gỗ, các doanh nghiệp bảo vệ và phát triển rừng cũng cần xây dựng bộ tiêu chí theo quy định quốc tế về xuất xứ, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Ngành chế biến gỗ liệu có hưởng lợi từ TPP? Chủ trương của chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Tăng cường công tác quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2014-2020. Theo đó, sau năm 2020 sẽ tạo được những khu rừng sản xuất có chất lượng tốt đủ điều kiện khai thác bền vững, nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ rừng tự nhiên cho tiêu dùng trong nước và từng bước thay thế gỗ nhập khẩu.

Bên cạnh đó, kiểm soát chặt chẽ khâu chế biến, mua bán gỗ để ngăn chặn tình trạng tiêu thụ, sử dụng gỗ bất hợp pháp. Rà soát, kiểm tra các cơ sở chế biến gỗ, chỉ cho phép hoạt động đối với các cơ sở đúng quy hoạch, có nguồn nguyên liệu ổn định và bảo đảm hệ thống sổ sách đáp ứng cho công tác truy xuất

Kiểm soát nguồn gốc gỗ hợp pháp; hạn chế hình thành mới đối với các cơ sở chế biến, mua bán gỗ; giải tỏa và không hình thành mới các cơ sở chế biến gỗ ở trong rừng và gần rừng tự nhiên. cương quyết đình chỉ hoạt động đối với những cơ sở chế biến gỗ vi phạm pháp luật nghiêm trọng…

Cơ chế để đón đầu.

Tạo cơ chế, chính sách phù hợp, chủ động các vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư thiết bị, công nghệ, tìm hiểu thị trường quốc tế đa dạng… đang là bài toán cần lời giải cho các doanh nghiệp gỗ trước ngưỡng cửa Hiệp định TPP, nhằm phát triển ổn định và bền vững.

Thị trường đồ gỗ nội địa cơ hội và thách thức

Thị trường đồ gỗ nội địa cơ hội và thách thức

Thị trường đồ gỗ nội địa cơ hội và thách thức cho nhà cung cấp nội địa. Hiện nay thị trường này hầu như phó mặc cho làng nghề, các DN vừa và nhỏ với đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ và phục vụ xây dựng là những nhóm được tiêu thụ mạnh nhưng chất lượng không đồng đều, mẫu mã hạn chế. Ngoài ra, đồ gỗ nước ngoài có xu hướng xâm nhập thị trường Việt Nam, như Singapore, Thái Lan, Trung Quốc…

Thị phần hấp dẫn của nội địa.

Theo khảo sát của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietforest), bình quân mỗi hộ gia đình ở Việt Nam cần mua sắm đồ gỗ với khoảng 6 triệu đồng/hộ/năm. Nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu hướng tăng nhanh…Tuy nhiên, với thị trường nội địa đầy tiềm năng này, các sản phẩm gỗ tại nội địa chưa đáp ứng nhu cầu nên lượng nhập khẩu còn rất lớn.

Thị trường đồ gỗ nội địa cơ hội và thách thức

Khó khăn Thị trường đồ gỗ nội địa chính là cơ hội và thách thức.

Những khó khăn khi trở về thị trường nội địa hiện nay không hề nhỏ. Ba khó khăn dễ thấy nhất, đó là: Nhà nước gần như chưa có chính sách phát triển ngành chế biến gỗ phục vụ nội địa. Hơn chục năm nay, Nhà nước chỉ chú trọng và tạo điều kiện cho việc xuất khẩu sản phẩm gỗ, như được miễn thuế… trong khi DN chế biến tiêu thụ nội địa phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) 10%…

Cùng với  đó, một loạt doanh nghiệp đang muốn chiếm lĩnh thị trường trong nước nhưng rất khó khăn khi tìm nhà phân phối. Trong khi đó, chúng ta lại dễ dàng tìm các nhà phân phối xuất khẩu với các đơn hàng lớn hơn. Tuy nhiên, rất cần phải học hỏi cách làm của nước ngoài để có những sản phẩm chất lượng, giá thành thấp ngay tại nội địa.

lap-ke-hoach-bao-ve-moi-truong-xuong-che-bien-go

Khó khăn lớn nhất hiện nay cho ngành gỗ chúng ta khá phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu gỗ để gia công. Chúng ta cũng đang dạng hoá nguồn nguyên liệu thông qua việc nhập khẩu gỗ từ Bắc Mỹ, Châu Âu với nhiều loại gỗ như sồi, gỗ tần bì, anh đào… Đây là nguồn gỗ vô cùng dồi dào, chất lượng đảm bảo, giá vừa phải. Ngoài ra, ở những nước này họ quản lý rừng rất tốt nên không sợ tiêu thụ và khai thác gỗ bất hợp pháp và không sợ rào cản về nguồn gốc gỗ các nước châu Âu và Mỹ các lại gỗ như tràm , gỗ muồng đen hay gỗ dầu vườn.

Các bước tháo gỡ tìm cơ hội.

DN muốn tiêu thụ hàng nội địa, không chỉ chế biến, mà còn phải tự vận chuyển, tìm nơi tiêu thụ. Hầu như phải tự làm tất cả và không ai ký hợp đồng dài hạn, trong khi với việc xuất khẩu, DN luôn có hợp đồng ổn định với số lượng khá lớn, việc phân phối có nhà nhập khẩu lo. Vì vậy, để mở rộng thị trường nội địa, trước hết Nhà nước phải có chính sách phù hợp, giúp DN yên tâm tìm về thị trường nội địa.

Quy trình sấy gỗ nguyên liệu

Quy trình sấy gỗ nguyên liệu

Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu quy trình sấy gỗ nguyên liệu làm gỗ khô tự nhiên.Gỗ ở trạng thái tự nhiên, luôn luôn chứa một lượng nước lớn. Khi không có một lượng nước nào hoặc một lượng nước nhỏ đựơc thoát ra, gỗ được gọi là “gỗ tươi” hoặc “gỗ chưa sấy”. Lượng nước tồn tại trong gỗ ảnh hưởng đến tính chất của gỗ. Vì vậy sấy gỗ là bước đầu tiên và quan trọng nhất trước khi gỗ được đem chế biến (gia công).

Lợi ích của quy trình sấy gỗ nguyên liệu

Sấy sẽ làm cho gỗ có kích thước ổn định, không bị sâu mọt, dễ dàng bảo quản.Quá trình hoàn thiện và gia công sản phẩm cũng vì thế mà sẽ đạt chất lượng cao hơn. Đặc biệt, việc sấy gỗ sẽ làm nhằm giảm trọng lượng của nó theo đó làm giảm chi phí vận chuyển.

Quy trình sấy gỗ nguyên liệu
lò sấy gỗ

Quy trình sấy gỗ.

Để có sản phẩm đảm bảo chúng tôi tiến hành xử lý khuyết tật, xử lý mắt xoắn, mắt đen, loại bỏ cây xấu, cây kém chất lượng. Sau khi cưa xẻ gỗ thì cho công nhân phân loại theo quy cách riêng biệt dày/mỏng và đưa vào ron tẩm trước lúc đưa vào bồn tẩm. Hóa chất dùng cho bồn tẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo không chứa chất độc hại đến môi trường (Có giấy chứng nhận).

Gỗ  trước khi được đưa ra khỏi lò tẩm thì sẽ được tẩm áp lực ở môi trường chân không từ 2-3 tiếng tùy theo quy cách của từng loại gỗ mà thị trường hay khách hàng yêu cầu.

Quy trình sấy gỗ nguyên liệu
lò sấy cao tầng

Sau khi được xử lý qua lò tẩm, công nhân sẽ tiếp tục phân loại gỗ lần nữa và sau đó chuyển qua công đoạn sấy bằng cách sử dụng nhiệt của hơi nước từ 10 – 20 ngày tùy theo quy cách. Nhiệt độ trong từng lò sấy sẽ được công nhân kỹ thuật kiểm tra thường xuyên & điều chỉnh cho phù hợp tùy theo quy cách gỗ nhằm duy trì chất lượng gỗ sấy ổn định.Tránh trường hợp nứt trong ruột. Độ ẩm sau khi đã xử lý tẩm sấy chân không đạt từ 8 – 12%.

Những lưu ý khi vận hành sấy gỗ.

Gỗ được sấy theo một chế độ sấy nhất định. Chế độ sấy là một loạt các giá trị về nhiệt độ và độ ẩm tương đối. Trong quá trình gỗ được sấy, độ ẩm của gỗ ngày càng giảm. Do vậy nhiệt độ và độ ẩm bên trong lò sấy cũng phải được điều chỉnh cho phù hợp nhằm đảm bảo cho khuyết tật sinh ra trong quá trình sấy là nhỏ nhất có thể.

Mỗi một loại gỗ khác nhau như gỗ thông hay gỗ tần bì sẽ chạy nhiệt độ thấp tránh nức xé, thời gian ra lò nhanh hơn.Ngược lại những dòng gỗ cứng như gỗ dầu hay gỗ muồng đen chạy nhiệt cao và thời gian lâu.Vì vậy tuỳ dòng gỗ sẽ yêu cầu một chế độ sấy khác nhau. Chế độ sấy cũng phụ thuộc vào kích thước của gỗ được sấy.

 

Gỗ Nguyên Liệu Nhập Khẩu Cần Rà Soát Hạn Chế Rủi Ro

Năm 2016, nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ tăng 3 – 5% Gỗ Nguyên Liệu Nhập Khẩu Cần Rà Soát Hạn Chế Rủi Ro để cải thiện môi trường.Nguyên nhân là thị trường bất động sản trong năm 2016 sẽ khởi sắc, kéo theo nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu gỗ, đồ tiêu dùng  tại thị trường nội địa sẽ tăng cao.

 

Gỗ Nguyên Liệu Nhập Khẩu Cần Rà Soát Hạn Chế Rủi Ro
thị trường gỗ

Lượng tăng, giá trị giảm

Báo cáo tại hội thảo cho thấy, năm 2015, lượng gỗ nguyên liệu NK lên tới 4,79 triệu m3, tăng 11,3% so với lượng NK của năm 2014 và 14% so với năm 2013. Giá trị kim ngạch gỗ nguyên liệu ở mức cao, khoảng 1,5-1,7 tỷ USD, nhưng vẫn giảm 60 triệu USD so với giá trị kim ngạch năm 2014.

Tương tự, lượng gỗ xẻ NK vào Việt Nam cũng có xu hướng tăng. Trong năm 2015, Việt Nam NK khoảng 2,21 triệu m3 gỗ xẻ chủ yếu gỗ thông gỗ tần bì, tương đương với 3,09 triệu m3 gỗ tròn. Số gỗ này bao gồm khoảng 150 loài gỗ khác nhau từ 86 quốc gia vùng lãnh thổ. Trong khi năm 2014, dòng gỗ này NK khoảng 2 triệu m3, với khoảng 160 loài khác nhau, từ 96 quốc gia vùng lãnh thổ..

Những Dấu Hiệu Tích Cực Của Nghành Nguyên Liệu.

Theo ông Tô Xuân Phúc, đại diện Tổ chức Forest trends, xu hướng này cho thấy một số tín hiệu tích cực. Đó là có sự dịch chuyển trong cơ cấu NK nguyên liệu.Với lượng NK các loài gỗ từ các quốc gia có tính hợp pháp của gỗ rất cao như Hoa Kỳ và Châu Âu. Đây cũng là tín hiệu đảm bảo sự tuân thủ với các yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường tiêu thụ quốc tế.

Bên cạnh đó, xu hướng này còn cho thấy sự dịch chuyển trong cơ cấu NK, từ các các loại gỗ quý có giá trị thị trường rất cao, sang các loài  gỗ có giá trị thị trường thấp hơn. Cơ cấu NK thay đổi có thể phản ánh dịch chuyển trong cơ cấu thị trường, như giảm nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm gỗ quý.Giá trị cao tại Trung Quốc, sang tiêu thụ dòng gỗ bình dân hơn tại thị trường nội địa. Các loại gỗ có giá trị thấp hơn được NK nhằm phục vụ tiêu dùng trong nước”, ông Phúc cho biết.

Gỗ Nguyên Liệu Nhập Khẩu Cần Rà Soát Hạn Chế Rủi Ro tăng thị phần.

Trong bối cảnh ngành gỗ Việt Nam hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế, việc Việt Nam duy trì xuất khẩu các mặt hàng gỗ nguyên liệu thuộc nhóm HS 44.Đặc biệt là đối với sản phẩm gỗ tròn và gỗ xẻ có nguồn gốc từ Lào và Campuchia sẽ tiếp tục có những tác động không tốt đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU…

images

Ngành gỗ Việt Nam hiện nay nhập khẩu chủ yếu là gỗ nguyên liệu thuộc nhóm HS 44 với tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính chiếm đến 97% tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, đặc biệt là nguồn nhập từ Campuchia, Lào, Trung Quốc, Chile… (nguồn: Forest Trends).

 

 

 

Mặt khác, việc tạm dừng hình thức tạm nhập tái xuất đối với mặt hàng gỗ nguyên liệu từ Lào và Campuchia cũng có thể làm mất cơ hội tham gia thị trường.Đối với một số doanh nghiệp Việt Nam chuyên làm thương mại bởi nó có thể tạo cơ hội cho các doanh nghiệp từ các quốc gia khác tiếp cận và kiểm soát nguồn gỗ này.Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến.Xuất khẩu đồ gỗ cũng như các cơ quan quản lý cần sớm có những giải pháp điều chỉnh theo hướng giảm dần tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm thô.Tăng tỷ trọng các sản phẩm đã được chế biến sâu với độ an toàn cao hơn về tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu đầu vào cho chế biến”– đại diện Vifores nhận định.